“TTất cả những thứ lướt qua mũi ta – những gì ta ngửi – Là cuộc sống. Đó là ý nghĩa của cuộc sống” – Jacques Polge
“Để tạo thành thương hiệu nước hoa No. 5, Chanel chỉ sử dụng loại hoa Rosa centifolia hoàn hảo nhất đến từ các cánh đồng quen thuộc tại Provence trong suốt 89 năm qua.”
Đã từ lâu, trước khi nước hoa bôi thơm trên làn da của bạn, quá trình tinh chế mùi hương đã bắt đầu với một loài hoa. Đối với Chanel No. 5 thì loài hoa đó là Rosa centifolia. Khi nở rộ, Rosa centifolia, đóa hoa bắp cải với hơn 100 cánh hoa, trở thành một đóa hồng thanh nhã với những chiếc lá tròn, nhẹ nhàng, và có nhiều gai nhỏ. Đóa hoa e lệ với cánh hoa nhỏ còn được biết đến qua cái tên Rosa de Mai (Bông hồng tháng 5) được trồng ở Grasse, một thị trấn nhỏ nằm giữa các dãy đồi dọc theo Côte d’Azur.
Gabrielle – Coco – Chanel bắt tay vào dự án Chanel No. 5 vào năm 1921. Thành công vang dội từ khi thành phẩm, Chanel No. 5 đã trở thành nhãn hiệu nước hoa bán chạy nhất thế giới. (Cứ mỗi sáu giây thì bán ra một sản phẩm thuộc danh mục Chanel No. 5). Nhưng thành quả lớn nhất trên cả những con số bán ra, thương hiệu đã trở thành một đề mục văn hóa. Nổi tiếng nhất vào năm 1959, Chanel No. 5 tham gia bộ sưu tập để đời tại khu bảo tàng nghệ thuật hiện đại (Museum of Modern Art) ở New York; và vào năm 1964, Andy Warhol đưa mùi hương vào tầm ngắm của 9 kịch bản phim. Một số người trong ngành công nghệ nước hoa xem tổ chức gần 90 tuổi này là “le mostre”; danh sách bán hàng trong năm 2003 đạt một con số kỷ lục lên tới €180 triệu Euro (khoảng $282 triệu tiền Canada). Quá trình tinh chế hương thơm Chanel No. 5 là một bí mật được tôn sùng mặc dù hai nguyên liệu chánh thì công chúng đều biết là Rosa centifolia và hoa nhài.
Tọa lạc trên các khu đồi ở Nice và Cannes, đồng hoa Grasse đã từ lâu được xem là thủ đô của nước hoa toàn cầu, sản xuất hầu hết tinh dầu từ hoa cho ngành công nghiệp dầu thơm. Grasse địa vị vừa đủ sâu trong đất liền để được bảo vệ khỏi gió biển và sở hữu vùng đất màu mỡ, nắng chan hòa và vi khí hậu, điều khiến vùng đất này trở thành một nơi lý tưởng cho việc thu hoạch hoa. Khi mùa xuân và mùa hè đến, không khí tràn ngập hương hoa.
Công nghệ nước hoa bắt đầu vào thế kỷ thứ 16 như một phần mở rộng của ngành công nghiệp găng tay. Grasse từng làm trung tâm bao thuộc da (leather and tanning centre), rồi kinh doanh thu hoạch hoa nảy nở cùng thời trang găng tay tẩm nước hoa. Các cánh hoa được ép vào mỡ động vật rồi chà lên găng tay để mất đi mùi da. Khi các nhà quý tộc bỏ rơi thời trang đeo găng tay thì ngành dầu thơm vẫn tồn tại và hưng thịnh. Grasse là ngôi nhà của hàng trăm cánh đồng hoa, nhưng ngày nay danh tiếng của nó phai nhạt dần do sự leo giá trong bất động sản và sự bùng nổ của các nguyên liệu được chế biến rất tinh vi. Chỉ những cánh đồng tốt nhất là vẫn còn tồn tại.
“Chúng ta không thỏa thuận điều gì khi nói đến chất lượng,” Jacques Polge, người làm nước hoa Chanel (in-house perfumer) đã nói, “Một khi công thức làm nước hoa đã hoàn thành, chúng tôi giữ gìn và trung thành với nó. Coco Chanel dùng hoa hồng và hoa nhài từ Grasse cho nhãn hiệu Chanel No. 5 và chúng tôi tiếp tục sử dụng những đóa hồng và nhài từ Grasse.” Polge hướng dẫn bộ sưu tập nước hoa của hãng với sự chuẩn xác. Ông là nhà tinh chế nước hoa thứ ba của Chanel. Người đầu tiên, từ năm 1920, là Ernest Beaux, người đồng sáng lập No. 5 và No. 22 dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của Coco Chanel. Người thứ nhì, Henri Robert, là nhà sáng tạo của Cristalle and Pour Monsieur. Polge làm chủ một danh sách các hương thơm đáng được ghi nhận như Coco, Allure, Coco Mademoiselle, và gần đây nhất là Bleu de Chanel.
Polge lớn lên tại miền Nam nước Pháp, gần Avignon. “Tôi đến Grasse vào mùa hè với gia đình, rồi đi bơi ở biển tại Cannes. Từ Nice đến Cannes, Grasse là một khu vườn khi tôi còn là một đứa trẻ,” ông nói. “Ở đó có những cánh đồng hoa hồng, hoa nhài và hoa tím. Hiển nhiên rằng mọi thứ chung quanh tôi đã dẫn dắt tôi đến việc sáng chế nước hoa. Chúng ta đều bị ảnh hưởng từ tuổi thơ.”
Có được một bộ nước hoa đến si mê để bôi No. 5 lên cổ và cổ tay là cả một thế giới bị mê hoặc từ hoa Rosa centifolia thu hoạch ở Grasse. Cơ sở trồng trọt hoa hồng khá nhỏ và chủ yếu được điều hành bởi các chủ trai tư nhân và gia đình họ. Vào năm 1939, vùng Grasse chế biến khoảng 750,000 kg hoa hồng. Vào năm 1946, số lượng giảm xuống còn khoảng 400,000kg và vào năm 1950 thì sản lượng sụt còn 300,000 kg. “Làm người cho thuê đất thì lời hơn là giữ đất để trồng hoa,” Joseph Mul nói, ông thuộc đời thứ tư của nhà Mul với vùng đất Grasse quý giá đã được dùng để trồng hoa độc quyền cho Chanel từ năm 1972. Công việc thu hoạch hoa là từ thành quả của lao động và hoàn toàn được hái bằng tay – đương nhiên là giá cả phải đắt hơn.”
Nông trại gia đình Mul lớn nhất ở Grasse, với 4 héc-ta hoa nhài, bảy héc-ta hoa Rosa centifolia sản xuất 50 tấn hoa hồng mỗi năm. Joseph Mul là một người đàn ông nói chuyện rất trầm tĩnh và ông ta rất hào hứng về công việc của mình. Mặt ông rám nắng, tay ông chai và đã phơi nắng phơi sương, dấu hiệu điển hình của lao động trên nông trại lâu năm. “Cây cỏ cũng như con trẻ,” người trưởng nông khoảng bảy mươi tuổi nói, “Bạn phải bảo vệ chúng khi chúng đang lớn, chăm sóc chúng, quý trọng chúng, và quan tâm chúng đúng mực.”
Rosa centifolia chỉ nở mỗi năm một lần vào khoảng 5 tuần trong tháng năm và đầu tháng sáu, thời điểm gặt hái chủ chốt là từ 15 đến 25 tháng năm. Hương hoa mãnh liệt và rất đặc trưng: thơm ngát và khêu gợi, nhưng mang tính cách rõ ràng. Trong mùa thu hoạch, hàng tá người làm công đi dọc luống, nhanh tay bẻ đầu hoa rồi cho nhẹ nhàng vào túi. Một khi túi đầy, họ dốc tất cả vào bao vải ở trên xe moóc được kéo bởi các xe kéo đến nhà máy chiết xuất, một tòa nhà hai tầng khiêm tốn trông như nhà kho được xây ở rìa cánh đồng. “Không có kẽ hở thời gian để hoa héo đi và mất chất lượng vì vừa được hái xong thì được chuyển ngay đến nhà máy,” Mul nói.
Trong nhà máy, hoa hồng được bỏ vào một trong mấy cái thùng lớn, gọi là máy chiết xuất. Có 5 cấp độ trong mỗi máy, mỗi cấp được ngăn bởi một lưới sắt lớn hình đĩa để hoa không bị nát. Khi thùng đầy, một cái nắp nặng sẽ đậy kín thùng. Hexane, một loại hóa chất dễ bay hơi, được bơm vào trong thùng, hòa tan các nguyên tố trong hoa và chiết ra mùi hương chính. Khi công đoạn hoàn tất, 5 lớp hoa “đã qua sử dụng” (giờ đây đã ngả màu nâu) được kéo ra và đem bỏ trong một lò ủ phân thông thường.
“Trong mùa thu hoạch, chúng tôi làm tất cả thời gian cho phép,” Mul nói. “Chúng tôi không đếm từng giờ. Chúng tôi bắt đầu khi hái hoa và ngừng khi hoa đã xong hết.” 400kg hoa thu hoạch được sản ra 1kg nguyên chất (trị giá €3,000 Euro tương đương khoảng $4,300 đôla Canada), có màu nâu cam, một loại chất lỏng sền sệt với hương thơm rất đậm. Nguyên chất được làm ngập trong ethyl alcohol nguyên chất để tách nhựa cây từ nguyên chất thuần túy. Nguyên chất tiếp tục cho ra 0.5 kg Tinh Chất (trị giá €5,000, tương đương khoảng $7,200 đôla Canada). Tinh Chất là một nguyên liệu không thể thay thế trong công nghệ làm nước hoa. Thành phần hóa học của tinh dầu hoa phức tạp và rắc rối đến nỗi không thể nào chế lại được, kể cả phòng thí nghiệm.
Joseph Mul bảo đảm chất lượng chứ không phải số lượng vì ông ta cũng đang gặp thử thách bởi thời tiết và rệp, loài côn trùng chuyên đào lỗ ở gốc cây và làm cây khô đi. Ông ta vẫn nhanh nhẹn thêm vào là nông trại Mul bao giờ cũng cẩn thận trồng hơn 20 phần trăm số hoa cần thiết, đề phòng trường hợp vụ thu bị tấn công. “Chúng tôi chưa bao giờ mất mùa thu hoạch nào,” ông nói. Hơn nữa, chỉ có phân bón hữu cơ được sử dụng và đất được kiểm tra thường xuyên.
Nhà Mul làm việc thân cận với Jacques Polge, người thường hay phân tích mẫu tinh chất. “Năm này sang năm kia, tôi phải chắc chắn rằng Chanel No. 5 được làm như nguyên mẫu,” Polge nói. “Tôi có trách nhiệm đối với chất lỏng này.”
Có một ý nghĩa thực sự đằng sau từ “Haute Parfumerie”, Chanel nhắc nhở thế giới điều này mỗi khi những chai dầu thơm được thành phẩm. Polge nói: “No. 5, vâng, nó là một con số, số của chúng tôi. Đó là thương hiệu nước hoa đắt tiền đầu tiên; và đó là một khuôn mẫu không già đi và đã vượt qua bao nhiêu giai đoạn thời trang. Vì vậy, nó thực và nó mang tính biểu tượng.”
Là một bậc thầy soạn thảo, Polge lý luận: “Khướu giác là giác quan mà ta không thấy được tầm quan trọng của nó,” ông nói. “Tất cả những thứ lướt qua mũi ta – những gì ta ngửi – là cuộc sống. Đó là ý nghĩa của cuộc sống.”
Yen Truong phỏng dịch Theo Claudia Cusano













