Thursday, May 23rd

Last update:01:40:13 AM GMT

Headlines:
You are here: Art & Culture Phóng Sự Văn Hóa Thương nhớ ngàn năm

Thương nhớ ngàn năm

Dù sống ở miền Nam hay miền Bắc hoặc miền Trung, đã là người đất Việt hình như ai cũng mang chút cảm xúc bồi hồi khi nghe đến những chữ “Đất Phương Nam”.

Miền đất mới chỉ nghe đã thấy hiện lên cả một trời nước mênh mang trù phú, kênh rạch chằng chịt và lòng người thì hồn hậu đến lạ lung. Phù sa nơi đây ngọt lành biết bao nhiêu để chỉ sau hơn 300 năm bén rễ, khắp một vùng tính từ Sài Gòn-Gia Định xưa xuôi tới tận Cà Mau nơi nào cũng gặp vườn cây trái xanh um và nghe thuyền tấp nập.

Đã nói tới miền Nam liệu có thể dùng tên gọi “xứ Dừa” để chỉ không, mặc dù cây trái ở đây có biết bao nhiêu mà kể. Không còn chia thành Nam kỳ lục tỉnh như cách gọi thời Pháp thuộc, lòng người Việt khi nhớ về phương Nam chỉ tạm chia thành Tây Nam bộ và Đông Nam bộ với Sài Gòn làm trung tâm. Chỉ đơn giản vậy thôi mà biết bao công sức của tiền nhân đã phải bỏ ra để ngày nay hậu thế có được vùng đất tốt tươi trù phú đến vậy.

Để có thể hiểu về phương Nam nói chung và miền Tây Nam bộ nói riêng, cần truy ngược lại dòng lịch sử. Lịch sử dân tộc Việt Nam thường có những bước ngoặc tạo nên những trang sử mới. 450 năm trước, trong dân gian đã lưu truyền câu nói đầy ẩn dụ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) nói với chúa Nguyễn Hoàng (1542-1613) sau khi người anh ruột của ông là Nguyễn Uông đã bị anh rể Trịnh Kiểm giết chết:

Hoàng sơ nhất đái,
vạn đại dung thân.

Câu sấm như là một dẫn dắt, liên quan đến cả vận mệnh dân tộc. Sự tranh giành quyền lực của họ Trịnh đã tạo nên một biến động lớn để đưa Nguyễn Hoàng vào đất Thuận Hóa (1558), đến nơi “ô châu ác địa”. “Ở nơi ấy, Nguyễn Hoàng không thể tranh chấp quyền hành với mình” - nghĩ thế nên Trịnh Kiểm đã đồng ý để vua Lê cử ông đi ngay. Và cũng nhờ thế, từ thời điểm đó, lịch sử Việt Nam đã mở ra một trang sử mới: đất nước đã được mở rộng về tận phương Nam! Một vùng mà trước đó đã từng hiện diện các nền văn minh lớn như Champa; Thủy Chân Lạp…, khi được tiếp quản bởi người Việt đã trở thành quê hương thứ hai, thánh địa nương thân của những dòng người ly hương, mang theo thanh gươm, giỏ nóp để tiến mãi vào vùng mênh mang nước, trong tâm trí còn giữ hình ảnh kinh thành Thăng Long nhưng không thể chấp nhận sự hủ bại của vua Lê chúa Trịnh. Quen với dải đồng bằng khô cằn và cây lúa nước, thân thuộc từ trong tiềm thức những đình chùa miếu mạo và làng quê bao bọc lũy tre, dòng người “hành phương Nam” thuở ấy hẳn phải là những con người quả cảm, sẵn sàng đương đầu với mọi gian nguy của miền đất lạ lẫm từ pho tượng thờ trong tháp Champa cho tới đàn cá sấu lội đầy dưới dòng kênh thẫm bóng lá tràm. Nếu như vào thời Huyền Trân công chúa, khi cuộc kết hôn hoàng tộc với vua Chế Mân mang về cho Đại Việt hai châu Ô; Lý (TK 14), người Việt đi vào vùng đất cũ của người Champa khởi đầu từ sự ngờ sợ rồi đi tới dung hòa tín ngưỡng bản địa, thì quá trình Nam tiến với chúa Nguyễn Hoàng lại diễn ra theo phương cách khác, tại đó thiên nhiên vừa trù phú vừa lạ lẫm khắc nghiệt đã trui rèn những người con xứ Bắc trở thành quả cam, cam trường và cũng đầy hào phóng. Tập làm ruộng trên vùng nước ngập, quen dần với ghe thuyền khi di chuyển giữa vùng trời nước mênh mông, những phương cách sinh nhai đó đã hình thành nên cốt cách của một miền Tây Nam bộ. Đặc điểm của đất mới, sản vật trù phú của dòng Cửu Long giang đã sinh ra trên miền đất mới những tập quán sinh hoạt chẳng còn giống nơi nguyên quán, khác từ kết cấu của ngôi đình khác đi, lạ từ phương thức buôn bán thương hồ cho tới kiểu cách chế biến món ăn đậm chất khẩn hoang.

Chỉ có ở đây, con người mới sáng tạo ra những món cá lóc bọc đất sét nướng trên ngọn lửa chụm từ cỏ rác bờ kênh, cũng chỉ có ở đây mới sinh ra điệu vọng cổ buồn da diết có nguồn gốc khởi nguyên từ tuồng Hồ Quảng và ca Huế. Lũy tre xanh vây bọc và gìn giữ ngôi làng xứ Bắc xưa không còn bó hẹp trong tâm thức, thay vào đó là dòng lưu thủy miên man của dòng Cửu Long Giang đưa ghe thuyền đi tứ xứ, sự kết giao trở nên mạnh mẽ hơn, tâm tính phóng khoáng hơn và tất yếu cuộc sống cũng trở nên hào sảng hơn. Tính cách con người dần thoát khỏi sự lệ thuộc nho giáo phương Bắc, hình thành phong cách đậm chất Nam bộ mà tới nay vẫn không hề phai nhạt.

Theo thời gian, quá trình đô thị hóa đã lan tỏa từ Sài Gòn, Cần Thơ cho tới tận các địa danh xa xôi của phương Nam, những đô thị Vĩnh Long; Sóc Trăng; Trà vinh; Bạc Liêu; Bến Tre… không còn quá xa xôi, tương đồng với đó là các khu phố cao tầng mọc lên ở hầu khắp đô thị miền Tây Nam Bộ, nhưng vẫn còn nguyên vẹn một đời sống thương hồ lênh đênh sông nước, câu chuyện "rặt chất Nam bộ” vẫn thường trực hàng ngày. Chợ nổi và nhà di động theo mùa nước lên, đàn trâu bơi giữa nước nổi và đàn vịt chạy đồng, làn gió mênh mang thổi trên ràn rạt cánh đồng lúa nước… luôn là hình ảnh quen thuộc của miền Tây Nam Bộ. Các cù lao cây trái xanh um ngọt ngào chén trà pha mật ong miệt Mỹ Tho, dòng ghe thuyền bất tận xuôi ngược dòng sông Tiền sông Hậu, tràm chim rợp cánh cò Đồng Tháp, thảm rừng quanh năm không soi tỏa ánh nắng xuyên qua tán tràm U Minh… những hình ảnh đó lúc nào cũng in sâu trong tâm thức người Việt khi nhớ về đất phương Nam, nơi lời thơ của danh tướng Huỳnh

Văn Nghệ đã khái quát trọn vẹn tấm lòng người bản xứ:

“Ai về Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.

Sưu tầm.